Thể loại : truyện ma, kinh dị
Truyện được sưu tầm tại 100 website của BigBang3G.
Lúc còn bé, ai chả ham chơi và chơi hết mình. Tôi cũng vậy, hồi nhỏ tôi là một đứa trẻ nghịch ngợm, và luôn tay luôn chân chạy khắp nơi.
Lúc còn bé, ai chả ham chơi và chơi hết mình. Tôi cũng vậy, hồi nhỏ tôi là một đứa trẻ nghịch ngợm, và luôn tay luôn chân chạy khắp nơi.
Tôi sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, nhà tôi nằm trong một con ngõ nhỏ gần ga Hàng Cỏ. Do nhà tôi và nhà bà ngoại ngay cạnh nhau nên trước nhà có một khoảng sân nho nhỏ, bên cạnh là một cây si đã hơn chục năm, dưới là cái bể cá xi măng bao bọc xung quanh gốc cây. Tôi hay nghe mấy người lớn tuổi nói rằng cây si là một trong bốn cây (cây si, cây gạo, cây liễu, cây đa) tụ tập nhiều oan hồn và ma nhất. Ban đầu khi dọn về ngôi nhà mới này, buổi tối tôi còn hơi sờ sợ nhưng lâu ngày rồi cũng quen nên chả quan tâm gì nữa. Nhà tôi ba tầng, kế ngay cạnh là nhà ông trẻ chỉ có một tầng và trên sân thượng của nhà ổng là một cái miếu mà tuổi đời có khi cũng ngang ngửa với cây si. Có thể nói miếu cũng là nơi mà nhiều khi oan hồn hay lai vãng vì đó là nơi người ta cúng tế oan hồn vất vưởng quanh năm để mong phù hộ độ trì. Tuy nhiên, tôi không lấy làm lo lắng gì về ngôi miếu này lắm vì cái miếu đó nhà tôi chỉ để thờ thổ địa và cúng ông Công ông Táo mà thôi.
Tôi nhớ như in, đó là một ngày thứ sáu cuối tháng năm, sau một cuộc đi chơi dã ngoại để chia tay lớp (lúc đó tôi từ cấp một chuyển lên cấp hai). Những lần đi chơi thế này là dịp để tụi học sinh như chúng tôi thả sức nô đùa, phá phách. Như một kết quả tất yếu, tôi về tới nhà vào lúc năm giờ chiều. Quá mệt mỏi, tôi lên tầng ba tắm rửa cho sạch sẽ và nằm lăn ra cái phản trên tầng ba đọc truyện tranh rồi thiu thiu ngủ lúc nào không biết. Lúc mở mắt ra, mới có hơn sáu giờ nhưng ngoài trời vẫn còn hửng sáng vì mặt trời chưa xuống hết hẳn. Kiến bò bụng, tôi lao ngay xuống tầng một để xem mẹ đã nấu xong cơm chưa. Nhưng khi chạy xuống, không có một ai cả. Chạy ngược lên gác hai, mở cửa phòng bố mẹ ra, trống trơn. Tôi lại chạy ù ra ngoài cái sân trước, vắng hoe, ngay cả nhà bà ngoại tôi cũng không có một ai. Không gian lặng im như tờ, tôi để ý thấy nhà bác tôi vốn nuôi bốn con chó tây, chúng nó đáng lẽ giờ này phải kêu inh ỏi để đòi ra sân chơi nhưng lạ thay cũng lăn ra ngủ say như chết. Cả mấy con chim cảnh mắc dịch cũng chẳng thèm hót mà chỉ rúc đầu vào cánh lặng thinh.
Bắt đầu thấy nghi nghi, tôi định chạy vào nhà lấy điện thoại bàn gọi cho mẹ thì bỗng nhiên thấy một cái bóng trước cửa vườn. Trong người tôi bỗng có cái cảm giác bất ổn, rờn rợn, tôi cố nheo mắt nhìn kĩ thì chỉ có thể nhận ra đó là một người đàn bà tóc dài, gầy gò với một chiếc áo dài trắng. Tôi chợt giật mình hốt hoảng, một tia ý nghĩ lóe lên trong đầu: “Ôi! đ*t con m*, ma!”. Bóng người kia như đọc được ý nghĩ của tôi, nó lao ngay về phía tôi, tôi có thể khẳng định đươc là nó không chạy mà lướt đi trên mặt đất rất nhanh. Tôi quay đầu, co chân mà chạy ngay lên tầng. Nhưng tôi có cảm giác nó càng ngày càng gần tôi hơn, không phải vì cái hơi lạnh từ cái vong này tỏa ra như những câu truyện ma khác thường đề cập mà đơn giản là lông gà tôi càng ngày càng dựng đứng lên, người tôi nóng râm ran. Khi vừa chạy đến cửa tầng hai tôi bị nó ép ngay vào góc tường. Nó đưa hai bàn tay ra cố tìm cách bóp cổ tôi, tôi đứng giằng co với cái vong này mồm thì kêu gào:
- Tha cho con bà ơi! Đừng giết con! Con làm gì nên tội đâu…
Lúc đó, tôi nhắm nghiền mắt lại vì sợ sệt không muốn nhìn vào cái bộ mặt khô khốc với hai hố mắt sâu hoắm đó nữa. Song lạ một điều là có cái gì đó tự nhiên làm tâm trí mình thức tỉnh tôi như chợt nhận ra rằng tuy đang đứng đây, giằng co với cái vong này nhưng bản thân lại có cảm giác như mình đang nằm sấp trên phản ngủ. Như một bản năng, tôi có gắng mở mắt để tỉnh giấc, nhưng tay chân tôi như tay chân của một người chết rồi, không nhúc nhích được. Còn về hai con mắt tôi, cho dù tôi có cố bao nhiêu đi chăng nữa để mở nó ra, thì dường như có một thế lực vô hình cực mạnh nào đó kìm hai mí mắt. Cứ chật vật như vậy, tại thời điểm này, tôi không còn nhìn thấy cái gì khác trước mặt ngoài cái vong kia.
Khi mà sự sợ hãi dâng lên đến tột đỉnh, tôi bỗng nghe tiếng ai đó nói vọng lại, từ một nơi xa xăm:
- Mày nên nhớ rằng, mày có thể chạy được, nhưng tao vẫn sẽ tìm đến mày!
Do quá sợ hãi, tôi cố dùng hết sức lực cuối cùng, mở to mắt ra. Mọi thứ trở lại bình thường. Tôi đang nằm trên cái sập ở tầng ba. Trên người mồ hôi đầm đìa, hai con mắt lúc này thì đau nhức kinh khủng. Tôi nhớ như in cái khoảnh khắc khi mở mắt ra, cảm tưởng như xé tan một tấm vải vậy. Quá sợ hãi, tôi chạy ngay xuống tầng một và tự nhủ mình sẽ không bao giờ nằm ngủ một mình trên tầng ba nữa. Nhưng nào tôi đâu có ngờ, đó chỉ là sự khởi đầu cho một loạt những sự kiện kinh hoàng mà có lẽ đến tôi cũng không bao giờ dám tưởng tượng.
2: Ai Làm Con Khóc.
Tôi thường hay cùng bố mẹ xuống Thổ Quan chơi và thăm ông bà nội. Chính ra, gia đình tôi đầu tiên sống cùng với nhà ông bà nội ở đây, cũng nằm trong ngõ. Ngoài ra còn có cả họ hàng như các bác và anh chị họ nên vui lắm. Tuy nhiên, vì khi đã ăn nên làm ra, bố mẹ tôi mua lại nhà của một bác bên họ ngoại là cái nhà hiện nay, chuyển lên đó sống cho rộng rãi và thoải mái những vẫn thường xuống thăm ông bà nội hàng tuần.
Như mọi lần, khi vừa xuống đến nhà bà nội là tôi chạy ù ngay sang nhà chị họ tôi, Zin. Đó là tên gọi của bà này ở nhà, gọi lâu ngày rồi thành ra quen. Tuy là chị em họ nhưng chúng tôi thân nhau lắm vì thực ra hai đứa cũng chả cách tuổi nhau là mấy. Lần này xuống, tôi có kể cho bả nghe về điều kì quặc mà tôi bắt gặp hôm ngủ trên tầng ba một mình. Nghe xong bả chỉ cười và nói rằng:
- Mày bị bóng đè rồi Bờm ạ.
Tôi khăng khăng nói:
- Em không nghĩ là bóng đè đâu, vì nếu bị bóng đè thì làm gì có chuyện mơ bị ma đuổi với lại cả người em làm gì có cảm giác bị đè đâu.
Bà ấy cũng cười rồi hỏi tôi có muốn nghe chuyện ma không. Chỉ đợi có thế, tôi khoái chí gật đầu ngay và lắng nghe bà ấy kể. Bên cạnh nhà chị Zin là nhà của hai vợ chồng trẻ hàng xóm. Đôi vợ chồng này tốt bụng lắm, luôn giúp đỡ láng giềng. Họ có một đứa con gái mới lên hai, tên ở nhà là Nhím. Cô nhóc náy kháu khỉnh lắm, nhìn rất đáng yêu.
Rồi vào một đợt, không hiểu tại sao, cứ mỗi lúc tối chuẩn bị đi ngủ, Nhím lại gào khóc thảm thiết mặc dù có bố mẹ ngay bên cạnh, mà hơn thế nhà cửa lại bật đèn sáng như bưng. Đầu tiên mọi người thấy kì quặc lắm, không hiểu lí do làm sao, cứ nghĩ là Nhím không chịu ngủ nên cố dỗ dành, nhưng mà khi ngủ được rồi thì đêm lại rất hay giật mình. Hơn thế nữa, nếu chỉ một lần thì không ai nói làm gì, nhưng đây, sự việc kéo dài hơn một tuần. Bố mẹ Nhím lo lắng lắm, ngay đến cả bác Vân (mẹ chị Zin) cũng phải hỏi thăm:
- Này, chúng mày làm cái gì mả để con bé nó khóc ghê thế?
Mẹ của Nhím nói:
- Bọn con cũng không biết nữa, lạ lắm bà Vân ạ. Cứ mỗi tối lúc chuẩn bị đi ngủ là nó lại gào ầm lên, khóc nức nở. Đã thế đêm ngủ hay giật mình, có hôm lại còn khóc thút thít nữa chứ.
Bác Vân tôi vốn là người đã từng gặp rất nhiều chuyện kì bí như thế này, có người nói tại vía bác nặng, nên ma quỉ hay trêu ghẹo, nhưng bác không sợ. Bác suy nghĩ một lúc rồi nói nhỏ với mẹ Nhím:
- Mẹ Nhím này, tao thấy có lẽ con Nhím nó bị ma trêu đấy, hôm nào mày qua cái chùa bên ngõ bên, mời ông sư về coi thử đi.
Mẹ Nhím mặt tái đi, nhưng cố cãi:
- Bà này, làm gì có chuyện đó, con không tin là có ma quỷ đâu.
Bác Vân vẫn giữ giọng nghiêm nghị và thì thầm:
- Mày chưa biết đâu, chỗ này hồi xưa chiến tranh, chúng nó rải bom cả phố, chết biết bao nhiêu là người. Mà hơn thế nữa, tao đã gặp nhiều chuyện tương tự trong ngõ này rồi, mai mày cứ mời thầy về coi thử, có mất gì đâu.
Mẹ Nhím lúc này mặt tái đi và giọng có vẻ run run:
- Thôi con nghe bà vậy, mai con sẽ xin nghỉ, qua đó rước thầy về.
Sáng hôm sau, mẹ Nhím sang ngõ bên mời được một sư thầy về. Ông sư này là một trong những thầy trừ tà có tiếng. Thầy đã ngoài sáu mươi, thân hình nhỏ bé, với lớp da ngăm đen. Đã rất nhiều người biết tiếng, đến nhờ thầy trừ tà, giải bùa, yểm nhà, v.v. Tuy nổi tiếng và đã phá giải nhiều điều bí ẩn, nhưng thầy chưa bao giờ đòi tiền công ai. Toàn để những người tới cầu cứu tùy tâm mà cúng cho nhà chùa. Khi thầy cùng mẹ Nhím đi tới ngôi nhà, vừa vào đến cửa, cả người thầy bỗng giật lên nhè nhẹ. Thầy đứng lại chăm chú nhìn xung quanh nhà một lúc. Sau đó bảo mẹ Nhím đưa Nhím ra cho thầy coi. Mẹ Nhím gọi bố bế con xuống, khi bố Nhím vừa bế Nhím xuống, thấy mặt sư thầy, Nhím nở một nụ cười rất tươi và đòi theo, bắt thầy bế. Mọi người đều hết sức ngạc nhiên, vì đối với trẻ con còn ít tuổi mà nói, rất ít khi mà theo người lạ mặt mà nhất là lại gặp lần đầu. Thầy bế Nhím vào lòng, vừa nựng Nhím vừa quan sát, một lúc sau thầy trả lại Nhím cho bố của bé, mắt Nhím lúc này nhìn thầy mặt hơi mếu mếu, ý như không muốn rời xa. Thầy bảo là bây giờ hãy gửi Nhím qua nhà khác cho ai trông hộ, rồi cả hai qua nghe thầy bảo. Mẹ nhím vội bế Nhím sang nhà bà bán rau đầu ngõ nhờ trông hộ còn bố tức tốc chạy đi pha trà, vì lúc nãy mải mê với Nhím quá mà quên đi mất việc đó.
Đợi khi cả hai vợ chồng đã quay lại, thầy tiến về phía bàn thờ, thắp ba nén hương, miệng lẩm bẩm cầu khấn gì đó, rồi vái ba vái. Sau đó thầy đi ra chiếc bản nhỏ. Ngồi đối diện với cả hai vợ chồng. Làm một ngụm trà xong, thầy hỏi:
- Tôi hỏi câu này khí không phải, chứ chỗ này có đứa nhỏ nào chẳng may xấu số mà chết oan không?
Bố mẹ Nhím sau khi nghe xong câu đó thì mặt tái đi, giọng run run, bố Nhím thưa:
- Dạ thưa thầy, kì thực thì chúng con không biết vì mới chuyển qua đây sống có hơn hai năm, nên cũng không rõ lắm. Chả là đây là nhà người quen, họ nhượng lại nên tụi con mới mua. Mà bẩm, sao thầy lại hỏi thế ạ?
Sư thầy ngồi suy nghĩ một lúc, chau mày lại, tay nhẩm tính một cái gì đó, rồi thầy thở dài một tiếng, hỏi:
- Mô Phật, vậy tôi hỏi thầy và cô đây có tin vào oan hồn không?
Vừa nghe xong câu hỏi đó, bố Nhím linh tính có chuyện chẳng lành. Mặt tái hẳn đi, mồ hôi bắt đầu lấm tấm trên chán ngồi lặng thinh. Còn mẹ Nhím thì run lẩy bẩy, mắt đờ đẫn, không nói nên lời. Thầy thấy vậy mới nói thêm:
- Tôi xin thực thà mà nói, đứa con của hai người đang bị ma trêu đó….
Lúc này cả hai vợ chồng, như ngã ngửa, người run rẩy, chỉ biết trợn tròn mắt ra mà nhìn thầy.
- Tôi không giám đặt điều với thầy và cô đây, quả thực là đang có một cái vong đang lởn vởn trong căn nhà này. Qua phán đoán của tôi, cộng thêm khi quan sát bé Nhím, tôi có thể khẳng định là cháu hay khóc vào buổi tối tầm tám đến chin giờ. Không chỉ có thế, đêm ngủ hay giật mình và có phải thỉnh thoảng còn khóc thút thít đúng không ?
Nghe đến đây, cả hai vợ chồng như rụng rời chân tay. Mẹ Nhím thì nước mắt đã lã chã lúc nào không hay, bố nhím thì mồ hôi đầm đìa như tắm, có gắng lắm mới thốt lên được mấy lời:
- Bẩm, sao thầy biết ạ?
Thầy nhìn hai người, chỉ khẽ thở dài một cái rồi nói:
- Thứ nhất, khi vào trong nhà tôi để ý thấy, dù cho bên ngoài trời có nóng bao nhiêu, nhưng khi vào trong nhà này lại có cảm giác mát mẻ khác thường, đôi khi còn cảm thấy như có hơi lạnh phảng phất. Đấy là sự hiện diện của khí âm đấy. Thứ hai, có thể đoán cái vong này còn trẻ tuổi, vì nó chỉ trêu được bé nhà ta mà thôi. Hơn thế nữa, nếu vong mà đủ mạnh, oan ức tích tụ lớn thì nó không chỉ chọc phá lúc trời tối đâu. Thứ ba, khi nhìn bé Nhím, nếu để ý kĩ thì sẽ thấy đôi mắt cháu có vẻ gì đó buồn bã và vô hồn. Chỉ tiếc là cháu nó chưa biết nói, nếu không thì bé sẽ cho chúng ta biết những gì bé thấy và mơ được. Thật lòng mà nói, những gì mà bé đang phải trải qua, đến người lớn cũng chưa chắc đã đủ can đảm để nghe đâu, mô Phật.
Lúc này, mẹ Nhím ôm lấy chồng mình và òa lên khóc nức nở:
- Anh ơi, giờ phải làm sao? Làm cách nào để cứu con mình đây?
Bố Nhím lúc này cũng đờ đẫn, chỉ biết ôm lấy vợ. Chợt bố Nhím quay qua thầy hỏi với giọng cầu khẩn:
- Thầy, thầy có cách nào giúp con bé nhà con không?
Thầy suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Cũng may là anh chị phát hiện kịp thời, nếu không thì bé Nhím khó mà qua được tai kiếp này. Theo như tôi tính, muốn đuổi cái vong này đi cũng không khó, nhưng giờ nó đã quen hơi bé Nhím rồi, mà có đuổi được nó ra khỏi nhà này đi nữa, thì khi đi đâu, dù xa đến mấy, nó cũng theo chân và trêu trọc được. Thầy và cô nhà chắc biết cây dâu da chứ?
Mẹ Nhím lúc này mới mếu máo, quệt nước mắt nói:
- Vâng, thưa thầy con biết.
Thầy chầm chậm nói:
- Thầy và cô hãy ngắt đủ sáu ngọn dâu da, nhớ là đừng ngắn quá và quan trọng là cả sáu ngọn phải dài bằng nhau. Ba ngọn thì buộc lại thành hình cái roi mây, cứ mỗi lần đến tối, khi thấy bé Nhím khóc thì cứ cầm cái roi dâu da đó mà quật mạnh xuống đất như đang cầm roi mây vậy. Khi bé Nhím ngủ, hãy để cái roi đó bên cạnh. Còn ba ngọn kia, buộc thành hình tròn, để vào một góc trên bàn thờ, hôm nào thấy bé Nhím đến tối mà không khóc nữa, đêm cái vòng da dâu đó treo lên trước cửa. Nhưng xin thầy cô nhớ cho, cái vòng đó phải treo đủ bảy ngày, không được tháo xuống. Sau bảy ngày, làm một mâm cơm cúng bao gồm, sữa, kẹo, bánh, đồ chơi và một ít vàng mã. Đêm bày ra trước cửa nhà, thắp sáu nén hương, đợi hương cháy hết, thì bắt đầu hóa vàng sau đó thì đem cái roi và vòng dâu da ra thiêu hủy luôn, chỉ có nhự vậy thì mọi chuyện mới êm xuôi.
Nói đến đây, thầy lấy trong túi mình ra một sợi chỉ vàng, đưa cho bố mẹ Nhím và nói:
- Còn cái này, lát khi qua đón bé Nhím về thì buộc vào tay cho cháu, nhớ là chỉ khi nào tất cả những việc kia đã hoàn thành, vẫn phải buộc dây này thêm mấy ngày nữa rồi hãng tháo ra. Sau khi tháo ra thì đem chôn ngay trong bát hương trên bàn thờ.
Bố mẹ Nhím nhận sợi chỉ từ tay thầy, cám ơn rối rít. Thầy thì chỉ chắp tay lại:
- Nam mô a di đà Phật. thiện tai, thiện tai.
Sau đó, bố mẹ Nhím tiễn thầy ra về.
Như lời thầy dặn, ngay ngày hôm sau mẹ Nhím đã tìm đủ sáu ngọn cây dâu da mang về theo lời thầy dặn: Ba cây để làm roi, ba cây còn lại để làm cái vòng và đặt lên bàn thờ. Đồng thời, lấy sợi dây vàng mà nhà sư đưa cho buộc vào tay Nhím. Quả nhiên đêm hôm nay, lúc kim đồng hồ vừa chỉ 9 giờ. Bé Nhím đang vui vẻ ngồi chơi, bất thình lình quay đầu nhìn ra ngoài cửa, rồi gào khóc thảm thiết như bị một ai đó làm đau hoặc là sợ hãi tột cùng. Không chần chừ một giây, mẹ Nhím với ngay cây roi dâu da để ở góc phòng, quất đánh chát xuống nền nhà một cái. Bé Nhím thôi không gào lên khóc nữa, nhưng vẫn thút thít. Mẹ Nhím lại lấy cây roi quất xuống đất lần thứ hai, bé Nhím thôi không khóc hẳn, nhưng mắt vẫn đăm đăm nhìn ra ngoài cửa với khuôn mặt mếu máo và lo sợ. Thấy vậy, mẹ Nhím quất cái roi xuống đất lần thứ ba, lần này mạnh hơn hẳn. Tiếng chát vừa vang lên, bất thình lình một cơn gió lạnh thổi từ trong nhà ra ngoài cửa. Mọi việc trở lại bình thường, bé Nhím trở lại bình thường và vui vẻ chơi với đồ chơi của mình. Đến giờ đi ngủ, mẹ Nhím làm theo lời thầy dặn, đặt cây roi bên cạnh Nhím. Quả nhiên tối hôm đó, Nhím ngủ ngon lành, không còn giật mình hay khóc lóc gì nữa. Cứ như thế liên tục bốn hôm liền, đến tối ngày thứ năm, khi đã hơn mười giờ mà thấy Nhím vẫn ngoan ngoãn, không khóc lóc gì. Bố Nhím vội chạy lên bàn thờ chắp tay lạy ba lạy, sau đó lấy cái vòng ra treo trước cửa. Đêm hôm đó, chỉ có mỗi Nhím là ngủ ngon lành. Còn bố mẹ Nhím thì không sao ngủ được. Vì ngay khi vừa treo cái vòng dâu da lên, cả đêm liền, hai vợ chồng nghe có tiếng trẻ con ở đâu đó khóc vọng lại. Tiếng khóc này rất khác thường, nó thảm thiết, não nề, và không kém phần rùng rợn, nghe thấy thì da gà nổi lên khắp người.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng hỏi mọi người xung quanh xem đêm qua con nhà ai khóc mà thảm thiết đến thế. Mọi người nhìn đôi vợ chồng ngạc nhiên, họ chỉ bảo là đêm qua làm gì có ai khóc đâu. Thấy ai cũng nói vậy, hai người có vẻ sợ hãi, vì đêm qua tiếng khóc rất rõ ràng và thê lương. Cứ như vậy gần một tuần lễ, không đêm nào là không nghe thấy tiếng trẻ con khóc vọng lại, thoáng nghe thì có vẻ gần, nhưng nghe kĩ thì rất xa vời. Một tuần trôi qua, cả hai vợ chồng vầng mắt thâm quầng, người thì mệt mỏi vì đêm nào cũng mất ngủ. Đến đêm hôm nay, cả hai người nghĩ là sẽ lại một đêm nữa thức trắng, nhưng lạ thay, bốn bề lặng như tờ, hai người dần dần chìm vảo một giấc ngủ êm đềm sau một tuần lễ đầy căng thẳng và mệt mỏi. Ngày hôm sau, mẹ Nhím lấy cớ bị ốm, xin nghỉ việc ở nhà, đi mua sắm các đồ lễ cần dùng rồi thắp hương cúng tế y như lời thầy trước cửa nhà. Sau khi hóa vàng xong, mẹ Nhím cầm cái roi và vòng dâu da ra thiêu nốt. Quả nhiên từ đó trở đi, mọi việc trở lại bình thường. Nhím không còn khóc lóc buổi tối hay giật mình khi ngủ nữa.
Hôm nay, mẹ của Nhím sắm sửa hoa quả cùng với chồng mình mang sang ngôi chùa biếu sư thầy để cảm ơn về việc đã giải tà cho cô bé con.
3. Đừng Bỏ Con Lại.
Đây là một ngôi chùa nhỏ bé gồm năm gian nhà chính: gian chính giữa là để thờ cúng Phật Tổ và các vị bồ tát khác, gian thứ hai bên trái là để làm các lễ như cúng kiến, hay cầu siêu trong các ngày lễ, gian bên phải là nơi để di ảnh của những người đã khuất mà người thân đưa lên chùa, để họ luôn được ở bên cạnh Phật Tổ, gian ngoài cùng bên trái là để tiếp đón khách đặt làm lễ hoặc ngồi trò chuyện và gian ngoài cùng bên phải là bếp ăn để nấu đồ cúng kiến hoặc chuẩn bị cơm nước cho các tăng ni Phật tử.
Gặp được sư thầy, hai vợ chồng hết lòng cám ơn. Thầy cũng vui vẻ khi tiếp đón đôi vợ chồng trẻ và hỏi han tình hình bé Nhím. Khi được biết mọi việc đã bình thường trở lại, thầy mới thở phào nhẹ nhõm. Trong cuộc trò chuyện vui vẻ, bỗng mẹ Nhím bất giác nhớ ra điều gì đó, quay ra hỏi sư thầy:
- Thưa thầy, tuy là mọi việc đã êm xuôi. Song con và chồng con vẫn có một chút tò mò và thắc mắc. Hôm bữa, khi thầy đến nhà, con có để ý là khi nhắc đến oan hồn của đứa nhỏ ở nhà con mà mặt thầy có chút gì đó đắn đo. Con có cảm giác như là thầy vẫn giấu tụi con điều gì đó về cái vong này, vậy tụi con mong thầy chỉ bảo thêm được không ạ?
Sư ông chợt ngẩn người ra mấy giây, xong chỉ mỉm cười và bảo:
- Tôi không ngờ cô đây quả thật có con mắt nhìn người rất tinh tường.
Bố của Nhím cắt lời:
- Thưa thầy, chả lẽ còn có gì uẩn khúc gì đằng sau cái oan hồn đó ạ?
Sư thầy thở dài và nói:
- Âu cũng là cái duyên cái số cả mà thôi, mô Phật. Tôi quả thật có biết về cái oan hồn nhỏ tuổi đó…
Nghe đến đây, hai vợ chồng càng thêm tò mò và thúc giục sư thầy kể đầu cua tai nheo về sự việc trên. Sư thầy chỉ biết nhìn họ cười mỉm và bắt đầu kể câu chuyện.
Sư thầy còn nhớ, đó là vào ngày 25 tháng 10 năm 1987, khi thầy mới bước vào cửa Phật được hơn mười năm. Lúc đó thầy mới hơn hai mươi tuổi. Mọi người vẫn hay gọi sư thầy là Pháp Độ, thầy theo học và phụ giúp thầy San. Tuy thầy Pháp Độ còn trẻ, nhưng dường như thấu hiểu được mọi nỗi khổ của người trần tục, nên khi giúp ai thì thầy cố tận tâm giúp hết sức nên được rất nhiều người quý mến. Tuy nhiên, khi mới nhập môn, Thầy San sau khi nhìn thầy, xem chỉ tay, tướng mạo bảo với thầy rằng:
- Ta không muốn làm con sợ, nhưng từ trước đên nay, con có bao giờ tin vào cõi âm, ma quỷ, hay oan hồn không?
Thầy Pháp Độ nghe thế, trong lòng hơi thắc mắc:
- Dạ bẩm thầy, nếu quả thực trên đời này có ma quỷ, oan hồn thật thì xem ra họ chỉ vấn vương, luyến tiếc điều gì chưa thực hiện được chứ ắt không hại đến người.
Thầy San cười hài lòng và nói:
- Con nói thế tức là con tin vào chuyện đó đúng không? Vì ta xem tướng mạo con, ta biết con là người có vía rất nặng, nên con sẽ nhìn thấy những điều mà con không tưởng tượng được đâu.
Tuy không hiểu ý của Thầy San lắm, nhưng thầy Pháp Độ cũng gật đầu vâng dạ. Có một đợt, nhà nọ trong ngõ có người chết, nghe đâu chết bất đắc kì tử. Gia đình mời thầy San đến làm lễ cúng bái và siêu thoát. Thầy San liền chấp thuận và gọi thầy Pháp Độ đi cùng để phụ giúp cúng tế. Người chết là một thanh niên trẻ, tầm ngoài hai mươi tuổi, cơ thể vạm vỡ khỏe mạnh. Trong lúc làm lễ, thầy San ngồi đọc kinh gõ mõ, còn thầy Pháp Độ đứng đằng sau lo việc nhang đèn, hương khói, đồng thời cũng tụng kinh theo. Lễ được làm lúc 5 giờ chiều, chỉ sau 8 tiếng khi chàng trai kia chết. Lúc ngồi làm lễ, thầy Pháp Độ có cảm giác như có ai đó đang nhìn mình chăm chú. Thầy bỗng có cái cảm giác rờn rợn, quay người ra cửa thì thấy có một chàng trai vóc người vạm vỡ, đang đứng thập thò ngoài cửa, chăm chăm nhìn vào hai thầy. Thầy Pháp Độ bắt gặp ánh mắt đó, thì sợ hãi rùng mình. Thầy chợt nhận ra rằng đó chính là người trong ảnh, hay nằm trong chính cái quan tài ngay trước mặt thầy. Thầy nghĩ vô lý, đã nằm trong quan tài, thì làm sao có thể đứng ngoài cửa mà nhìn vào được nữa. Thầy pháp độ quay lại mặt vào trong, nhắm mắt, miệng lẩm bẩm tụng kinh theo thầy San trong sự run sợ.
Khi bài khấn vừa xong, mọi người đứng lên thu dọn đồ lễ. Thầy pháp độ mở mắt, quay lại nhìn về phía cửa thì không còn thấy chàng trai đó nữa. Về đến chùa, thầy Pháp Độ cứ đi ra đi vào, ngẩn ngơ, không nói năng gì. Thầy San thấy vậy, kêu thầy vô và hỏi:
- Con có chuyện gì hay sao mà sắc mặt như người mất hồn vậy?
Thầy Pháp Độ ấp úng thưa:
- Thưa thầy, con…Trong đám ma hồi chiều, con…
Thầy San cắt lời:
- Con thấy vong của người đã khuất đúng không nào?
Thầy pháp độ tròn mắt hỏi:
- Bẩm, sao thầy biết? Không lẽ thầy cũng nhìn thấy ạ?
Thầy San chỉ mỉm cười:
- Ta gặp cái vong này từ hồi sáng cơ.
Thầy Pháp Độ há hốc mồm ngạc nhiên. Thầy San cười mỉm rồi kêu thầy Pháp Độ ra bàn nước và nói chuyện.
Thầy kể là sáng hôm đó, khi đang ngồi thiền tại gian chính thì thầy nghe có tiếng gọi từ đâu vọng lại. Thầy nhìn ra cửa thì thấy một thanh niên đang đứng lấp ló ngoài đó. Thầy nói:
- Có chuyện gì, xin mời thí chủ vô đây, sao lại đứng thập thò ngoài đấy?
Người đó ấp úng vẻ sợ sệt nói:
- Thưa thầy… con không giám vào, vì ánh hào quang và sự oai nghiêm của Phật pháp quá lớn.
Như hiểu ra điều gì, thầy San đứng dậy, tiến ra cửa:
- Nếu đã là người của cõi khác, xin hỏi sao còn loanh quanh nơi đây? Phải chi có điều gì khuất tất?
Người thanh niên kia mới thật thà đáp:
- Bẩm thầy, con mới qua đời sáng nay, còn biết là thể nào người nhà cũng qua đây nhờ thầy làm ma chay, cúng kiến. Con chỉ xin thầy khi làm xong, đừng yểm bùa trước cửa để con còn được về thăm người thân.
Thầy San đáp:
- Phàm đã là người của cõi âm, thì tại sao còn luyến tiếc trần thế làm chi? Yểm bùa chẳng qua là tránh oan hồn về làm giữ thôi.
Người thanh niên kia khẩn khoản chắp tay nói:
- Con xin thầy, con không có ý quậy phá hay trêu chọc ai, chỉ là chưa đền đáp được gì cho cha mẹ cả, nay lại yểu mạng. Chỉ xin thầy đừng yểm bùa, thì con còn có thể về phù hộ giúp đỡ bố mẹ con ăn nên làm ra.
Thầy San nghe mủi lòng liền bảo với người này:
- Thôi được, nếu thí chủ đã thành tâm như vậy, thì bần tăng xin hứa sẽ không yểm bùa. Nhưng mong thí chủ nhớ cho, nếu tạo ác nghiệt, sẽ mãi mãi không được siêu thoát luân hồi. Mô Phật.
Nghe được những lời đó, người kia khóc nức nở rồi quỳ xuống, vái thầy San ba vái. Sau đó dần tan biến vào không gian. Quả nhiên chỉ hơn mười phút sau, có mấy người khóc lóc, chạy vào chùa, nhờ thầy San làm lề cầu siêu cho con trai họ vừa mới chết yểu. Đó chính là bố mẹ và người nhà của người thanh niên kia.
Có thể nói, đó cũng chính là sự khởi đầu cho một loạt những chuyện bí hiểm sau này mà thầy Pháp Độ bắt gặp, trong đó có một câu chuyện thương tâm hơn cả. Cuối mùa đông năm 1990, tiết trời lành lạnh. Dạo này, thầy thường thấy có đứa bé gái tầm chín, mười tuổi, hay lang thang trong ngõ cả tối, cứ thẩn thơ chơi một mình. Thầy Pháp độ thấy kì lạ, bèn hỏi chuyện. Cô bé đó nói là không có nhà, không có cửa, nên chả biết đi đâu về đâu. Nghe vậy thầy thương lắm, hay cho cô bé đó kẹo, bánh và đồ ăn trong chùa. Nhưng lạ ở chỗ, là chỉ từ 8 giờ tối trở đi mới thấy cô bé đó, còn đến ban ngày thì không thấy đâu. Rồi bất thình lình một hôm cầm tớ báo đọc, thầy Pháp Độ bỗng giật mình, mồ hôi toát ra đầm đìa. Thầy đọc đến mục tin hình sự, công an tìm thấy xác một bé gái mười tuổi, chết đuối trong bể nước được hơn một tháng. Mục tin tức có đề cả ảnh và đó chính là cô bé hay luẩn quẩn đầu ngõ hơn hai tuần nay. Vừa nhìn thấy bức ảnh, thầy Pháp Độ bỗng có cảm giác rờn rợn, đặt tờ báo xuống, thầy vừa sợ nhưng xen lẫn một chút buồn bã và thương hại cho cô bé kia. Nguyên đêm hôm đó, thầy ngồi tụng kinh niệm Phật, cầu mong cho linh hồn cô bé mau được siêu thoát, nhưng rồi thầy chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết. Thầy mơ thấy cô bé đó hiện ra, ngồi trước mặt thầy.
Cố bé kể mình tên là Hoa, bố tên An, còn mẹ tên Minh. An và Minh là đôi vợ chồng trẻ, họ cưới nhau năm 18 tuổi, bỏ ngang việc học hành, tuy hai gia đình kiên quyết phản đối. Nói là phản đối, chứ thật ra vì Minh đã có bầu với An được hơn 4 tháng. Không thể che giấu được nữa, bố An mua một căn nhà nhỏ có vườn cho đôi vợ chồng này ở và tự thân nuôi nhau. Hai vợ chồng sống cuộc sống tạm ổn, An thì làm nghề lái taxi, nhưng lại ham cờ bạc, lô đề. Còn Minh thì thêu thùa, may vá quần áo. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào, khi Hoa chào đời, cuộc sống của gia đình An và Minh cũng xuống dốc từ đây. Hoa mắc bệnh câm bẩm sinh không thể nói được nên cũng chẳng được cho đi học. An thì càng ngày càng nghiện mấy trò đỏ đen, có bao nhiêu tiền cũng nướng vào đó sạch. Cuối cùng cũng khuynh gia bại sản. Không chịu đựng nổi An, Minh bỏ anh theo một lão nhà giàu hơn cô hai mươi tuổi, bỏ lại An một mình nuôi con. Càng ngày càng túng bấn, rồi dần dần An mất luôn việc làm, tối ngày chỉ ở nhà uống rượu, nhiều khi còn chửi bới, đánh đập Hoa. Nhiều kẻ xấu mồm, nói với An rằng Hoa là cái họa, là con quỷ, mang đến khổ đau và nghèo đói cho gia đình An. An cũng vì thế mà càng ngày càng cay ghét cô bé hơn. Rồi có một hôm, An được mấy thằng bạn rủ rê vào miền Nam làm ăn. Vì quá kẹt tiền nên An bán tháo đồ đạc trong nhà, gom tiền lại rồi tính theo thằng bạn vào Nam. Nhưng chợt nhớ tới Hoa, cái của nợ này phải gửi cho ai bây giờ? Bố mẹ An đã từ An lâu lắm rồi, cái nhà là món quà từ con mà bố tặng cho An.
Buồn rầu, chợt trong đầu An lóe lên điều gì đó. An thấy nhà mình ở chỗ vắng người, nhà nào biết nhà ấy tối ngày đóng cửa im lìm. An hí hửng vui mừng vì mình đã có một kế hoạch hoàn hảo. Tối đó, An làm mấy chai rượu đế, cho thật say. Khi rượu đã ngấm vào người, An gọi Hoa vào kêu ra bể múc nước cho An rửa mặt. Hoa vâng lời, đang hí hoáy múc nước, từ đằng sau, An lao tới xô cô bé xuống bể nước rồi đóng nắp lại. Hắn vào nhà xách túi quần áo chạy qua nhà bạn ngay trong đêm đó. Nghe đến đây, thầy Pháp độ nước mắt lưng tròng. Hoa bỗng hạ giọng, hỏi thầy Pháp Độ:
- Tại sao lại ra nông nỗi này hả thầy? Con đã làm gì nên tội, mà kiếp này, mọi việc đen đủi đều đổ dồn lên đầu con? Có ai thấu hiểu cái sự cô đơn, lạnh lẽo tột cùng trong cái bể nước đó không? Cái cảm giác chết dần chết mòn, lạnh lẽo từ từ thấm dần vào cơ thể? Thầy trả lời con đi! Tại sao lại như thế?! Tại sao?!
Thầy Pháp Độ chỉ biết thờ dài, thầy nói:
- Âu cũng là ý trời khó tránh khỏi. Thiện tai, thiện tai.
Hoa trợn mắt, tiếng nói như thét lên giữa bốn bề đêm vắng:
- Ý trời?! Vậy ông trời có mắt không tròng! Con không cam chịu chết tủi một mình đâu! Con sẽ trả thù! Còn sẽ bắt bố mẹ con chết không được, mà sống cũng không xong!
Thầy Pháp Độ cố nói bằng giọng bình tĩnh, khuyên can Hoa:
- Mô Phật, con à, đừng gây thêm nghiệp báo nữa, con sẽ không được siêu thoát đâu. Chi bằng con hãy phù hộ độ trì cho bố mẹ con. Lấy ân báo oán, như vậy có phải sẽ được thoát khỏi oán hận mà siêu thoát luân hồi sao?
Hoa giọng càng đay nghiến:
- Cái gì là lấy ân báo oán chứ? Con không cần phải siêu thoát, cũng chả cần đến luân hồi. Con sẽ cho chúng nó biết rằng, có những điều mà đáng sợ hơn cả chết, chúng nó sẽ ước rằng còn chưa bao giờ tồn tại trên đời này!
Thầy Pháp Độ đang định nói thêm, thì Hoa đã vụt tan đi trong không trung, để lại bồn bề vắng lặng.
Kể đến đây, mặt thầy Pháp Độ bỗng hiện lên một vẻ buồn man mác. Bố mẹ nhím cũng không khỏi bàng hoàng. Mẹ Nhím hỏi thầy:
- Như vậy, mọi chuyện là ở trong gia đình của cô bé Hoa đó, cớ gì lại chọc phá con của con hả thầy?
Thầy Pháp Độ thở dài:
- Biết là không liên quan, nhưng mà Hoa đã đưa được cả bố và mẹ về cõi bên kia rồi. Tuy là đã làm được việc mà mình mong muốn. Nhưng do oán khí tích tụ lâu ngày, nên giờ dù có thực hiện được việc mà mình muốn làm đi chăng nữa, oan hồn vẫn cứ lởn vởn như người vô định, vất vưởng tại chốn này mà không bao giờ siêu thoát.
Bố Nhím chen lời:
- Thầy cho con hỏi, sao thầy biết chắc là Hoa đã trêu chọc con gái con mà không phải là cái vong hay oan hồn nào khác?
Thầy Pháp Độ nhìn thằng vào mắt Bố của Nhím, chậm rãi nói:
- Tại sao ư? Vì khi thí chủ bế con xuống, bần tăng đã nhìn thấy bé Hoa đi lẽo đẽo theo sau thí chủ. Ngay cả khi bần tăng bế cháu Nhím, bé Hoa cũng đứng đó không rời nửa bước.
4. Mẹ Không Thể Bỏ Con Mà Đi Được Nữa Rồi.
Từ ngày cưới giám đốc Vinh, Minh bỗng chốc trở thành một quý bà giàu sang. Sống trong sung túc, tiền tiêu không bao giờ hết. Về phía Vinh, tuy đã có 2 bà vợ, nhưng vì chưa đẻ được thằng con trai nào, nên rất buồn bực. Vinh gặp Minh cũng rất tình cờ, hôm đó đang trên đường chạy vội tới cửa hàng tạp hóa để mua mấy thứ cho công việc. Vinh va phải Minh ngã sõng soài. Đáng lẽ ra Vinh sẽ không để ý đâu, nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt, vóc dáng của Minh thì như người mất hồn. Từ đó Vinh và Minh bắt đầu liên lạc và qua lại với nhau. Tình cảm lâu ngày càng đậm đà, nồng thắm. Cuối cùng, Vinh thuyết phục Minh bỏ chồng, về làm vợ mình. Minh đồng ý ngay, Vinh tổ chức một cái đám cưới linh đình cho mình và Minh. Hai bà vợ Vinh tuy ghét Minh ra mặt, nhưng giờ nếu bỏ Vinh thì tay trắng nên đành cam chịu.
Về ở với Vinh một thời gian, tuy là Minh đã nhiều lần có thai nhưng không hiểu vì lí do gì mà toàn bị sảy, phải đến hai lần. Không chỉ có vậy, vì Vinh thường xuyên phải đi công tác xa nhà, nên việc Minh ngủ một mình là chuyện rất bình thường. Thật ra cái việc ngủ một mình này cũng không có gì đáng nói nếu như Minh không gặp phải những chuyện kì quái. Mọi việc bắt đầu khi mà Minh mang thai đứa trẻ đầu tiên, Vinh dành hết mọi sự chú ý cho Minh. Lí do là vì Vinh luôn mong rằng đây sẽ là thằng con trai nối dõi, Minh thì chả mấy quan tâm tới chuyện là trai hay gái vì cô nghĩ rằng con mình sau này khi trào đời sẽ có một cuộc sống sung túc hơn hẳn mẹ nó ngày trước. Đến tầm thai được gần 3 tháng, Vinh phải đi công tác xa để bàn chuyện làm ăn, nên Minh đành lủi thủi ở nhà một mình. Minh thường thức rất khuya, tuy biết vậy là có hại cho thai nhi, nhưng cô cũng không bận tâm. Giờ đang là mùa mưa, nên thường có những cơn mưa to kéo dài cả đêm, thậm chí còn nối tiếp mấy ngày liền. Vào một tối như thường lệ, Minh cầm cuốn “Đau thương đến chết” say mê đọc, bên ngoài trời mưa to. Chợt đâu đó, vọng lại tiếng trẻ con khóc thiệt là não nè và u uất. Tiếng khóc đó lúc thì vang vọng, lúc thì lại rất bé phải cố lắng tai lắm nghe mới được. Minh đặt cuốn truyện xuống và nhòm ra cửa sổ. Tiếng khóc lại biến mất, nhưng cứ mỗi lần cô đặt mình trở lại trên giường và cầm cuốn sách lên, thì tiếng khóc lại vọng về tựa như từ một cõi nào đó xa xăm và thăm thẳm. Lúc đầu Minh còn thấy nghê rợn, nhà cô vốn là một căn biệt thự, xung quanh là vườn cây thì làm sao có trẻ con nhà nào mà khóc được cơ chứ? Rồi mấy đêm như vậy liên tục, cô dần cảm thấy quen thuộc với tiếng khóc ai oán đó mà không để ý dến nữa. Nói là không để ý, nhưng thật ra cái tiếng khóc này nghe rất quen thuộc. Minh có cảm giác như đã nghe thấy cái tiếng khóc này ở đâu rồi. Đến ngày Vinh quay về, cô cũng không đả động gì đến chuyện kì quái đó nữa. Hôm đó, Vinh với Minh đi thăm người bạn mà vợ hắn mới sinh được một đứa con gái khá kháu khỉnh. Khi đến nơi, Vinh với Minh thay nhau ẫm cô nhóc kháu khỉnh lên tay và nựng. Khi cô nhóc vừa đến tay Minh, nó bỗng đổi sắc mặt, nhìm chằm chằm vào Minh. Minh bắt đầu cảm thấy một cái gì đó lành lạnh chạy dọc sống lưng, một cái cảm giác rùng rợn như kiểu có một ai đó đang nhìn mình rất oán hờn. Rồi đứa trẻ khóc òa lên, Vinh vội bế nó khỏi tay Minh. Minh đứng im như người mất hồn, cô bắt đầu nhớ lại. Cô không còn tin vào tai mình nữa, tiếng khóc của đứa bé này giống y hệt như tiếng khóc hàng đêm vọng về. Rồi chợt Minh đờ mặt ra, trong đầu cô chợt lóe lên một cái tên “Hoa”. Minh ngã lăn ra đất bất tỉnh. Vinh cùng bạn vội chạy lại đỡ Minh dậy và gọi ngay bác sĩ với y tá. Đến ngày hôm sau, khi Minh tỉnh lại, nằm trên giường bệnh, cô thấy Vinh rơm rớm nước mắt. Chưa kịp hỏi gì, thì Vinh đã giọng buồn bã nói:
- Chúng ta mất con rồi em ạ.
“Hoa”, đã mấy năm nay rồi, Minh không có thông tin gì về nó, hay nói đúng hơn là chả thèm bận tâm đến. Minh linh tính như đây là điểm báo đã có chuyện chẳng lành đến với Hoa. Đến ngày xuất viện, vừa vào đến nhà, cô lại bàn thờ thắp hương mà vái lạy:
- Hoa ơi, mẹ vô tâm quá, lâu nay đã không thèm đoái hoài gì tới con, mẹ thiết nghĩ chắc là con cố tình báo cho mẹ biết là đã có chuyện chẳng lành đến với con. Thôi thì con sống khôn thác thiêng, mong con phù hộ độ trì cho mẹ...
Vừa dứt câu thì một luồng gió lạnh bỗng thổi bạt vào người Minh từ đằng sau. Cô rùng mình quay lại, không có ai. Mà nhà lại đóng hết cả cửa sổ lẫn cửa ra vào, hơn nữa đang là mùa hè thì kiếm đâu ra gió lạnh chứ? Đã mấy tháng rồi, kể từ sau cái lần sảy thai ở viện, Minh trở về nhà thì không còn tiếng khóc ai oán hàng đêm nữa. không bao lâu, cô đã mang thai lại, một đứa nhóc cho Vinh. Cái thai này đã được 5 tháng. Như thường lệ, Vinh vẫn phải đi công tác và Minh lại một mình ở nhà. Nhưng lần này, cô sợ rằng thức khuya sẽ có chuyện chẳng lành nên ngủ rất sớm. Tuy là hè nóng nực, nhưng Minh có một thói quen là trùm một tấm chăn rất mỏng ngang bụng. Khi ngủ, cô nằm ngay ngắn, hai tay để trước ngực rồi cứ thế mà dần dần chìm vào giấc ngủ. Đến nửa đêm, Minh bỗng giật mình tỉnh giấc, sờ lên người thì không thấy chăn đâu. Cô ngạc nhiên là vì khi ngủ chưa tự đạp tung chăn ra bao giờ. Ngồi trên giường lần tìm cái chăn mỏng. Hóa ra là cái chăn đó đã chui xuống chân giường lúc nào không biết. Minh ngồi dậy, nhảy xuống giường rồi cầm cái chăn lên. Đắp ngay ngắn, rồi lại từ từ sâu giấc. Tuy nhiên trong lúc còn mơ màng, cô có cái cảm giác như tấm chăn của mình đang từ từ bị kéo xuống. Tuy mắt nhắm, nhưng Minh dùng tay, cố giữ tấm chăn lại. Rồi cứ như thế, đôi bên giằng co nhau được một lúc, lực kéo bên kia dường như biến mất. Minh giật mạnh cái chăn, khiến nó chùm quá đầu. Nhanh như chớp, Minh hất tung chăn và ngồi dậy. Không có gì cả, bốn bề vẫn lặng im như tờ, cả căn phòng chìm trong bóng tối xen vào đó là một vài tia sáng yếu ớt, le lói phát ra từ bóng đèn ngủ đầu giường.
Rồi cứ như vậy hơn một tuần, cơ thể Minh suy sụp hẳn. Đêm nào cũng canh cánh lo lắng trong lòng. Cớ những đêm, cô nằm trong buồng mà nghe có tiếng trẻ con cười đùa, chạy nhảy ở buồng ngoài. Kèm theo là tiếng đồ đạc va chạm, di chuyển. Đáng sợ hơn là nhiều khi đang nằm, hé mắt ra nhìn thì thấy bóng một đứa bé gái đứng ở cửa phòng. Lúc thì lại ngay đầu chân giường. Giờ thì Minh đã biết những chuyện này là do đâu. Cô từng nghe những người lớn tuổi kể về việc đêm nằm ngủ bị vong hồn trêu ghẹo như kéo chăn, lật giường và thậm chí là sờ chân. Bây giờ thì Minh đã hiểu cái cảm giác khi ngủ mà bị ma kéo chăn là thế nào. Cô mang trong đầu một chút ý nghĩ oán trách và căm giận. Cô trách là Hoa đã chết đi mà không phù hộ độ trì cho cô mà lại còn hiện về trêu ghẹo. Với những ý nghĩ đó, cô quyết tâm phải diệt trừ cái vong của Hoa, phải làm sao cho vong hồn của Hoa tan biến và mãi mãi không được siêu thoát, đầu thai.
Hôm sau, Minh ra ngoại thành và mời về được một ông thầy nổi tiếng về trừ tà và bùa ngải, thầy Khoa. Đúng 9 giờ, thầy Khoa đã đến trước cửa khu biệt thự của Minh. Minh tất tả chạy ra đón thầy. Vào đến nhà, thầy bảo Minh đưa thầy đi quanh nhà một vòng, sau đó ngồi xuống bàn nhẩm tay tính toán. Thầy nhìn Minh một lúc, khiến Minh e dè. Rồi thầy làm một ngụm trà, thở dài, đặt tách xuống. Thầy hướng về phía Minh, nói giọng nhỏ vừa đủ nghe:
- Con à, vong hồn nó đang theo con đấy.
Mình như nghe phải tiếng sét đánh ngang tai, cô rùng mình. Không ngờ những gì cô nghi ngờ bấy lâu nay lại là sự thật. Đúng là con nhỏ Hoa nó đang ám theo cô. Minh cố lấy bình tĩnh, khẽ hỏi thầy với vẻ giọng run run:
- Dạ bẩm thầy, sao thầy biết ạ?
Thầy Khoa nhìn thẳng vào mắt Minh, hỏi giọng nghiêm nghị:
- Thầy hỏi con câu này trước nhé, con đã bao giờ phá thai, hay làm hại đứa trẻ nào chưa?
Bị hỏi bất ngờ, Minh nói:
- Dạ thưa thầy chưa. Con chưa bao giờ phá thai hay làm hại một đứa trẻ nào cả, hơn thế nữa, con mới sảy thai hồi năm ngoái.
Thầy Khoa hỏi lại Minh với giọng nghiêm khắc hơn:
- Con có chắc chắn không, con phải nói thật với thầy thì thầy mới giúp được con, con đã bao giờ phá thai hay làm hại một đứa trẻ nào chưa?
Minh trả lời giọng chắc chắn:
- Dạ, con khẳng định là chưa ạ.
Thầy Khoa thở dài:
- Có thể con có chuyện không tiện nói ra, thôi thì thầy cũng không ép buộc con. Hiện tại cái vong đang theo con là một đứa trẻ. Nó đang cô đơn và cần con quan tâm tới nó đấy.
Minh lúc này giọng cương quyết hỏi thầy:
- Thưa thầy, thầy có cách nào đuổi cái vong này đi cho con được không ạ? Mà làm nó tan hồn phách đi được thì càng tốt ạ.
Thầy Khoa giật mình, mặt ngơ ngác, nhìn thẳng vô mắt Minh, hỏi lại:
- Tại sao lại phải đến vậy hả con? Ta thấy cái vong này đâu có làm gì quá đáng đâu, con chỉ cần quan tâm đến nó một chút, là nó sẽ để yên cho con ngay.
Minh giọng tức tối:
- Bẩm thầy, quan tâm kiểu gì bây giờ? Con mệt mỏi với nó lắm rồi. Đêm nào nó cũng phá phách không để con yên. Hơn thế nữa, con lại còn đang mang thai đứa bé trong bụng. Không giấu gì thầy, cả nhà con đang mong đợi đứa bé này, cho nên con cắn rơm cắn cỏ lạy thầy, mong thầy giúp cho con.
Minh vừa nói đên đây, hai mắt đã rơm rớm nước. Thầy khoa thở dài, ngẫm nghĩ một lúc, thầy nói với Minh giọng rờn rợn:
- Con à, đuổi cái vong này đi không phải là chuyện khó, nhưng mà còn cái nghiệp chướng, nó sẽ theo con đến tận cuối đời đấy con ạ.
Minh giọng cương quyết:
- Bẩm thầy, ý con đã quyết rồi, chỉ cần con mẹ tròn con vuông, con không quan tâm đến hậu quả sau này.
Thầy Khoa chỉ biết thở dài và đồng ý chấp nhận giúp Minh. Sau khi dặn dò kĩ nhưng thứ chuẩn bị cho việc làm lễ vào đêm ngày mai. Minh tiễn thầy Khoa ra về. Thầy Khoa trên đường về mà lòng rất bối rối kèm theo một nỗi thấp thỏm không yên như có điềm không lành sắp xảy ra. Thầy biết rõ chứ, ngay từ cái giây phút thầy nhận lời Minh là thầy đã đồng ý làm một việc trái ý trời rồi. Vốn là người và oan hồn thuộc về hai cõi hoàn toàn khác nhau, người không phạm vào oan hồn thì oan hồn không phạm vào người. Duy chỉ có một số trường hợp, khi mà oan hồn còn luẩn quẩn, chưa vào cõi vĩnh hằng được, thì thường hay loanh quanh chốn nhân gian, thoắt ẩn thoắt hiện để quấy rối con người mà thôi. Nói là quấy rối chứ thật ra oan hồn làm vậy vì chưa muốn bị lãng quên, chưa chấp nhận cái sự thực là mình sẽ phải bước vào cái cõi hư vô. Trong trường hợp này, cái vong mà thầy sắp đuổi đi chỉ là một đứa trẻ, nó chưa có làm gì nên tội cả, chỉ cần có một sự quan tâm. Vậy mà giờ lại đánh đuổi nó vào cõi hư vô thì e rằng cái nghiệp đó sẽ không chỉ bám lấy Minh tới tận cuối đời đâu, mà nó sẽ còn họa lây cả thầy nữa.
Tối hôm đó, sau khi mọi thứ đã chuẩn bị đầy đủ cho buổi lễ. Một cái bàn thờ nhỏ đặt ngoài sân, trên đó gồm một con gà luộc, 6 chén nước trắng, một bát gạo, một bát muối, một bát tiết gà, một bát hương to. Thêm vào đó là một bộ quần áo mà Minh thường mặc, một nắm tóc của Minh, ... Để dưới chân bàn thờ, là 3 cái hình nhân bằng giấy, một trai một gái, và hình nhân của một bé gái. Khi chuông đồng hồ vừa điểm mười hai giờ, thầy Khoa kêu Minh ngồi xếp chân vòng tròn ngay trước bàn thờ, mắt nhắm và chắp tay trước mặt, lẩm bẩm khấn theo lời thầy. Những cái cần ghi nhớ ở đây là dù có gì xảy ra cũng không được mở mắt ra. Thầy Khoa bắt đầu làm lễ, thầy vái lạy tứ phương tám hướng. Lẩm rầm khấn vái, đốt một nắm hương. Thầy vừa múa vừa chỉ tứ tung, mồm vẫn khấn vái. Về phần Minh thì mắt vẫn nhắm nghiền, mồm lầm rầm đọc theo thầy. Độ 15 phút sau, khi thầy Khoa bắt đầu đốt những lá bùa, Minh có một cái cảm giác rờn rợn, mồ hôi toát ra đầm đìa, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng rồi lan ra khắp cơ thể. Hơn hẳn thế, cô có cái cảm giác như đang có ai đó chăm chăm nhìn mình, một cái nhìn đầy oán hận. Khi thầy Khoa đem bộ quần áo của Minh và nắm tóc khua khua trước mặt cô rồi sau đó cho vào cái chậu sắt to châm lửa đốt. Bất chợt bên tai Minh vọng lên một tiếng kêu gào thảm thiết. Minh rùng mình vì sợ, cái tiếng đó như vọng từ cõi âm vọng về. Nó cứ văng vẳng bên tai, khiến cô không tài nào tập trung được. Thầy Khoa để ý thấy Minh có vẻ như đang bị cái gì đó làm phân tán. Thầy vớ bát gạo trên bàn, cầm thổi một hơi vào đó rồi hắt lên người cô. Khi gạo vừa tạt vào người Minh thì bốn bề lại yên lặng, không còn tiếng kêu gào oán than, không còn những giọt mồ hôi đầm đìa, không còn cái cảm giác lành lạnh toàn thân, mà giờ cái còn lại là cái nhìn đầy thù oán và một nỗi lo thấp thỏm không yên. Thầy cầm bát muối, thổi tiếp một hơi, rồi vừa đọc thần chú, vừa dốc bát muối đó lên đầu Minh từ từ. Cái cảm giác thấm thỏm không yên kèm theo cái nhìn oán hận cũng dần như tan biến. Sau đó thầy cầm 3 cái hình nhân bằng giấy xếp ngay ngắn trong cái chậu sắt mà thầy vừa đốt quần áo của Minh. Thầy đặt hình nhân bố bên phải, hình nhân mẹ bên trái, rồi đứa con gái bé bỏng ở giữa rồi móc ba là bùa trong tui ra, lần lượt dán lên trên trán của cả ba hình nhân. Khi lá bùa vừa được dán lên hình nhân đứa bé gái. Minh bỗng gào lên thảm thiết:
- Con đ* kia! Mày buông tao ra! Tao không theo mày đâu! Mày cút đi! Tao không muốn nhìn thấy mày nữa!
Minh đã bật ra khỏi vị trí ngồi thiền lúc nào không hay, tuy mắt vẫn nhắm, nhưng cô khua tay khua chân như thể đang có một ai đó lôi mình đi.
Biết việc sắp xong, thầy Khoa bèn châm lửa đốt ngay cái hình nhân đứa bé trước. Rồi cứ thế, ngọn lửa dần dần lan qua cả hình nhân bố và mẹ. Còn về phía Minh, chỉ thấy cô giãy giụa một hồi nữa, rồi bất chợt nằm im mồm lẩm bẩm:
- Hoa ơi, tha lỗi cho mẹ con ơi... Tha lỗi cho mẹ… Hoa ơi…
Đợi cho 3 hình nhân đã cháy hết, thầy Khoa với bát máu gà, nhặt một ít tro từ trong cái chậu sắt khuấy đều vào bát mau gà. Thầy bưng về phía Minh, lần lượt nhúng hai tay, hai chân của minh vào bát máu gà. Cuối cùng thì lấy máu trong bát, quệt lên trán, lên khóe mắt, má rồi cằm của Minh. Vừa làm xong, thì cũng là lúc Minh thiu thiu chìm vào giấc ngủ. Thầy bế Minh đặt vào giường, sau đó ra ngoài dọn dẹp. Khi dọn cái chậu sắt, thầy Khoa rùng mình, hốt hoảng khi nhìn vào chậu, một góc khuôn mặt của hình nhân đứa bé gái chưa cháy hết, để lại một con mắt với cái nhìn ghê rợn.
Sáng hôm sau, Vinh đi công tác về. Bước vào nhà. Anh hết sức ngạc nhiên khi thấy thầy Khoa ngồi trong phòng khách đang nhâm nhi li trà, Vinh hỏi lớn:
- Ông là ai?! Sao lại tự tiện vô nhà tôi thế này?! Vợ tôi đâu?!
Thầy Khoa thấy Vinh về, đặt tách trà xuống, trả lời:
- Vợ con đang nằm trong buồng, hôm qua cô ấy mời thầy về nhà này làm lễ.
Vinh chạy ngay vô phòng, khi nhìn thấy Minh đang nằm ngay ngắn trên giường ngủ, anh mới an tâm. Quay ra phòng khách, Vinh hỏi giọng nghi hoặc:
- Lễ? Lễ gì ?
Thầy Khoa nhìn Vinh:
- Chả lẽ vợ con chưa nói gì với con sao?
Vinh giọng ngơ ngác:
- Tôi có thấy vợ tôi nói gì với tôi đâu, mà mời ông ra khỏi nhà tôi ngay cho.
Thầy Khoa đứng dậy, xách cái túi bên cạnh chuẩn bị đi ra, nhưng khi đến cửa, thầy quay lại nói khẽ với Vinh:
- Công việc của thầy đã xong, thầy cũng không còn lí do gì ở lại đây nữa. Nhưng còn một chuyện, thầy nhờ con. Khi nào vợ con tỉnh dậy, hãy bàn với vợ con về việc phá cái thai thai càng sớm càng tốt, để lại e là sẽ có điềm không lành.
Vinh giọng cau có:
- Ông nói linh tinh cái gì thế? Mà mời ông đi ngay cho!
Thầy khoa chỉ thở dài lắc đầu và bước ra khỏi cửa. Ra đến cổng, thầy ngoái nhìn lại ngôi biệt thự, nói nhỏ:
- Nghiệp báo… nghiệp báo…
Về phần Vinh, đợi khi Minh tỉnh lại. Vinh mới hỏi cô đầu đuôi sự việc. Minh cũng không muốn giấu giếm với Vinh nữa, bèn kể hết mọi chuyện cho Vinh nghe kể từ cái lần mang thai đầu tiên rồi tiếng khóc ai oán ban đêm. Cô chỉ bỏ chi tiết Hoa lại và không kể gì với Vinh. Sau khi nghe xong, Vinh hỏi Minh là cái thai vẫn tốt chứ. Minh gật đầu, thế là Vinh ôm chầm lấy Minh và cũng quên bẵng mất lời cuối cùng mà thầy Khoa đã dặn chàng. Ngày vui cũng đã đến, Minh sinh được một bé trai khá kháu khỉnh, Vinh vui hết cỡ đặt tên con là Long. Nhưng chỉ có điều lạ là khi sinh ra Long rất ít khi khóc. Và khi đã lên bốn, Long vẫn không nói một lời nào. Đã thế, Long hầu như không lãy. Dần dần lớn lên, Long chỉ nằm im một chỗ, như bị liệt toàn thân vậy. Minh và Vinh vô cùng buồn bã, mặc dù đã đi chạy chữa khắp nơi, nhưng bác sĩ nào cũng chỉ biết lắc đầu. Vinh vì quá chán nản với gia đình, nên thường lấy cớ đi công tác xa, bỏ Minh ở nhà một mình với Long. Một đêm mùa đông, khi Long đã lên sáu, Minh vừa bế con vào giường, cô ngồi thụp xuống, nhìn con mình nằm im như tượng, thút thít khóc và nói:
- Con ơi, mẹ khổ với con lắm rồi con có biết không? Mẹ đã tận tụy hết lòng, mà sao con không thương mẹ hả con?
Bất thình lình, Long quay đầu về phía Minh khiến Minh giật bắn mình. Rồi cô lại có cái cảm giác rờn rợn như hôm nào. Long nhìn chằm chằm vào mặt Minh, bắt đầu nói bằng một thứ âm thanh xa xôi và rùng rợn:
- Bây giờ thì mẹ không thể bỏ con mà đi nữa rồi, mẹ có biết con đã phải chờ bao lâu để có được ngày hôm nay không? Mẹ nghĩ rằng mời ông thầy kia là có thể xua đuổi được con hay sao? Bây giờ thì mẹ con ta mãi mãi bên nhau mẹ nhé! Hi hi hi hi…
Vừa cười dứt tiếng, Long lại từ từ quay đầu nhìn lên trần nhà, trở về trạng thái bất động, bỏ lại Minh hồn xiêu phách lạc không nói lên lời. Mấy ngày sau, cô bật tivi thấy thời sự đăng tin về một ông thầy ở ngoại thành đã tự thiêu. Không còn lạ gì nữa, đó chính là thầy Khoa. Hôm sau, có người đưa cho Minh một tờ giấy và nói rằng của thầy Khoa, thầy bảo là khi nào mà thầy chết rồi thì hãy đưa thư này cho Minh. Minh nhận bức thư, tay run run mở ra;
“Gửi cô Minh.
Tôi hi vọng cô vẫn còn nhớ tôi. Tôi là thầy Khoa được cô mời về làm lễ hôm nào đây. Sáng hôm sau khi làm lễ, tôi có gặp chồng cô và có nói cho chồng cô mấy điều nhưng chắc đã quên không nói lại với cô.
Tôi đã biết hết mọi chuyện về cô rồi cô Minh ạ. Hôm đó trước khi làm lễ, tôi đã bảo cô không nên giấu giếm điều gì, nhưng cô vẫn giấu tôi một chuyện, đó là về bé Hoa. Nó là đứa con mà cô đã bỏ rơi. Cái đêm trong lúc dọn dẹp khi đã làm lễ xong. Tôi phát hiện ra rằng hình nhân cô bé gái cháy không hết mà còn chừa lại con mắt. Tôi biết ngay là mọi sự đã được an bài, cái lễ đó coi như hỏng rồi.
Tôi đã căn dặn chồng cô là khi nào cô tỉnh lại nên bàn chuyện phá thai, vì cái thai đó chính là bé Hoa. Nhưng có lẽ chồng cô đã quên. Về phía tôi, vì giúp cô làm cái lễ đó mà mang tội vạ lây, e rằng tôi chẳng sống được bao lâu nữa. Tôi mong cô ở lại bình an vô sự. có gì tôi mạn phép đi trước.”
Vinh vừa về đến nhà, đã gọi to cho Minh ra đón. Nhưng lạ thay bốn bề im lặng. Anh chạy kiếm khắp nhà, nhưng không thấy vợ và con đâu. Chạy ra sân sau, một mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Vinh lần theo mùi đó, thì sửng sốt khi thấy cả Minh và Long đã treo cổ tự tử từ trên cây mít được mấy ngày. Dưới đất còn có một tờ giấy với một dòng chữ do Minh viết để lại:
“Em và con đợi anh ở bên kia”.
Nói về phần An, kể từ khi hắn theo bạn vào Nam lập nghiệp đến giờ cuộc sống cũng chả giàu sang được là mấy.
5: Cả Nhà Đoàn Tụ.
Hắn với thằng bạn xin vào làm một chân bảo kê trong sòng bạc và cũng thuê được một căn nhà nhỏ ở quận tư. Do làm nghề bảo kê, có thể nói An đã gặp đủ loại người và hắn chả còn sợ cái gì trên đời này kể cả cái chết. Nhà hắn là một căn nhà 2 tầng nho nhỏ nằm trong ngõ, mà ngoài mặt ngõ thì toàn là các nhà bán hòm, rồi điêu khắc bia đá hoặc là làm vòng hoa đám ma. Các nhà ở đây hầu như nhà nào cũng treo bùa trong nhà hoặc để hình bát quái trước cửa. Nhiều nhà thậm chí còn chưng tượng Phật bà ngay trong phòng khách. Nhưng riêng chỉ có mỗi An là ko làm vậy, nhiều người hỏi cớ tại sao mà không làm như họ, An chỉ nói:
- Ôi dào, thời đại bây giờ, ai còn tin vào ba cái chuyện ma quỷ nhảm nhí, toàn một lũ yếu bóng vía!
Chỗ An ở trước kia là một vùng tập kích của quân Mỹ khi vào miền Nam. Hồi đó khu này đông lính cộng sản cố thủ lắm. Nhưng khi Mỹ đổ vào thì giết sạch không chừa một ai, từ già đến trẻ. Làm vậy cũng chỉ bởi làm theo một cái lý “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Từ lâu lắm rồi, người dân quanh vùng này, hễ làm nghề gì buôn bán là ế ẩm vô cùng, nhiều nhà còn phải bán tháo nhà cửa để đi nơi khác. Thế nhưng từ đợt bà Tám Tiền mở dịch vụ bán hòm, thuê người về làm tại gia thì nhà giàu lắm, cũng như thế mà các nhà khác cũng làm để ăn theo. Lâu ngày dần dần khu này được gọi là “Phố Âm Phủ”. An đi làm bảo kê, nên thường về nhà rất muộn vì nhiều hôm còn ở lại nhậu nhẹt chán chê đến gần 3 giờ sáng mới về. Vào một ngày như mọi lần, sau một cuộc nhậu tới bến. An lại chân nọ đá chân kia đi bộ về nhà, đi dọc trên cái khu phố Âm Phủ này thì quả thật là hãi hết sức, từ đầu đến cuối phố, nào là hòm, là bia mộ, là vòng hoa… Nếu không phải là người sống ở đây thì có cho tiền cũng chẳng ai dám đi qua cái phố này lúc 3 giờ sáng. An đang lững chững bước đi, chợt nghe thấy có tiếng bước chân của hai người nữa, đi theo sau. Tiếng bước chân đi rất đều đặn. An lúc đầu nghĩ rằng chắc có ai đó cũng sống ở đây. Nhưng bỗng hắn nhớ ra, là lúc rẽ vào làm gì có ai. Hắn bất thình lình dừng lại, tiếng bước chân kia cũng im bặt. Hắn lại cất bước đi, tiếng bước chân đằng sau lại đều đều. Hơi bực mình, An giả vờ đi một đoạn, vừa đi hắn bất ngờ quay đầu lại. thì thấy có hai cái bóng xa xa. Do đang say cộng với bóng đèn đường không được sáng cho lắm, chỉ thấy như một người phụ nữ đang dắt một đứa bé. Thấy An dừng lại, hai cái bóng kia cũng đứng lại. An lớn tiếng:
- Giờ này không về nhà mà ngủ, còn dắt còn đi lang thang làm gì nữa không biết!
Rồi hắn lại đi tiếp, đến lúc rẽ vào ngõ nhà hắn. An để ý thấy vẫn còn tiếng bước chân lẽo đẽo đằng sau. Lần này thì hắn tức lắm, quay hẳn người lại mà chửi:
- Con đ* kia! Bố mày nợ nần gì mày? Mà mày cứ lẽo đẽo theo tao thế hả? Có cút con m* mày đi không thì bảo!
Tiếng hét đó của An như xé tan bầu không khí im lặng, tiếng chó từ những căn nhà khác bắt đầu sủa ầm ĩ hết cả lên. Nhưng hai cái bóng đó vẫn bất động, chỉ lặng lẽ đứng đó. An tức mình, không thèm nhiều lời, chạy ngay vào nhà đóng cửa lại. Hắn mệt mỏi, cởi bỏ quần áo, chỉ mặc một chiếc xà lỏn chạy lên tầng hai ngủ. Vừa đặt mình xuống giường, hắn nghe thấy con chó ở căn nhà phía sau nhà hắn sủa dữ dội. Tiếng sủa giận giữ của nó, khiến người nghe phải rợn tóc gáy, nó cứ oang oang trong bầu không khí ban đêm, như thể một con quái vật khát máu. An bực mình, đang định tiến lại cửa sổ thò mặt ra chửi cho con chó chết tiệt đó một trận thì hắn hét toáng lên, khi mà thấy hai khuôn mặt của hai mẹ con lúc nẫy. Giờ thì An nhìn rõ lắm rồi, cái khuôn mặt trắng bệch, tóc xõa ra, hai cặp mắt trừng trừng nhìn về phía An. Hắn vớ chai bia, ném vào thành cửa sổ cái “CHOANG”, thì hai khuôn mặt kia cũng biến mất. Hắn cố trấn tĩnh lại, bật hết đèn lên. Hắn cố lý giải là tại sao tầng hai của hắn làm gì có ban công mà lại có người đứng đó được.
Sau gần một đêm thức trắng, lo sợ rằng hai cái bóng kia lại xuất hiện, An dường như kiệt quệ. Mới có hơn 7 giờ sang, hắn thất thiểu chạy ra quán cà phê đầu phố, mà cũng có thể coi là cái quán cà phê duy nhất còn tồn tại trên cái phố này. Nghe đâu chủ quán là một ông thầy có tiếng, nên đã yểm bùa căn nhà, nhờ vào đó mà việc kinh doanh mới không bị thua lỗ. Có nhiều hộ gia đình cũng đến mong ông yểm bùa nhà họ để làm ăn được phát đạt, nhưng ông đều từ chối cho dù người đến có trả ông bao nhiêu tiền đi chăng nữa. Ông thường nói với những người đến xin yểm rằng:
- Thú thực là tôi cũng muốn giúp nhà bác lắm, nhưng khổ nỗi như bác biết, vùng này hồi xưa có bao nhiều người chết. Do không được cúng bái, lâu ngày tích tụ khí âm nhiều, nên vong hồn mới lởn vởn mà ám người bây giờ. Bất đắc dĩ tôi phải yểm bùa cái nhà này vì số tôi không hợp với việc buôn bán hòm. Tôi làm thầy mà giờ còn làm ba cái nghề phục vụ người chết nữa thì có ngày sẽ bị vong nó kéo đi lúc nào không hay. Tôi yểm nhà tôi đã tổn thọ đi mấy năm rồi, sợ làm cho nhà bác nữa thì e rằng khó mà giữ được cái mạng này.
Nhiều người nghe xong đều nghĩ rằng ông Tư là người ích kỉ, chỉ muốn làm cho nhà mình. Nhưng ông không trách họ, chỉ cười huề. Mới sáng sớm nay, đã thấy An thất thểu lò dò vô trong quán, gọi một tách đen đá đặc. Ông tư liếc nhìn nói vọng ra:
- Chú An, sao bữa nay dậy sớm quá dzậy?
An cũng đáp lại cho phải phép:
- À, chào thầy Tư, tối qua tôi không ngủ được.
Đợi cho thằng nhỏ bê tách cà phê đen lại cho An, ông Tư cũng chạy ra, kéo ghế ngồi cạnh. Ông nói giọng đùa cợt:
- Coi bộ chú có vẻ mệt mỏi hen? Hay hôm qua lại có con hàng nào ngon nên phệt tới sáng chứ gì?
An giọng mệt mỏi:
- Thầy lại trêu tôi, hàng ở đâu ra cơ chứ.
Nói xong, An cầm tách cà phê làm một ngụm lớn. Ông Tư cũng châm điếu thuốc, rít một hơi dài, từ từ nhả khói và tiếp lời:
- Đ* má, không biết tối qua có chuyện gì mà con chó mực nhà lão Sửu sủa inh ỏi, làm tôi mất cả ngủ. Má, cái con đó phải mang đi làm thịt cày thôi chú An nhỉ?
An cố cười gượng. Ông Tư lại tiếp lời:
- Nói đùa chú thế chớ con chó đó thiêng lắm đó nghen, do chính tay tui bắt về cho lão Sửu đó. Cái đợt mới mở tiệm bán hòm, lão qua nhà tôi riết. Nể tình là bà con xa, nên tui mới mua con mực đó, về huấn luyện làm bùa yểm cho nhà lão ý đó chớ. Mà chú đừng nói chuyện này với ai nghe chưa.
An tò mò hỏi thầy Tư:
- Thầy bảo thiêng là sao cơ hả thầy?
Ông tư cười hì, rít thêm một hơi thuốc rồi bảo An:
- Chà là hồi đem con mực về, tôi có buộc nó đằng sau vườn, nơi tôi thường ngồi luyện bùa. Cộng thêm vào đó hay dắt nó ra nghĩa địa cùng tôi buổi đêm. Cái việc mà luyện ra sao xin chú thứ lỗi tôi không thể kể chi tiết được. Nhưng mà sau khi đã huấn luyện xong. Con mực bây giờ có thể nhìn thấy được vong linh đấy. Có nó trong nhà là không một vong nào giám vô, kể cả ma xó cũng bị nó đuổi ra cơ mà.
An nghe đến đây chợt giật mình, rồi cố làm ra vẻ không tin:
- Thầy cứ nói quá lên, làm gì có chuyện chó mà nhìn thấy vong người chết?
Ông Tự giọng nghiêm nghị:
- Chả lẽ chú chưa từng nghe qua tên 7 con vật khắc ma hay sao (chó, mèo, chim cú, quạ, châu chấu, bướm)?
An cười đáp:
- Thầy ơi, con có nghe rồi, nhưng mà ví như chim lợn, người ta nói nếu chim lợn đậu trên nóc nhà ai thì nhà đó chắc chắn có đám ma, hoặc chỉ nghe tiếng nó kêu thôi, thì cũng gặp họa chẳng lành. Thế thì khắc ma chỗ nào hả thầy?
Ông Tư giọng điềm tĩnh:
- Chim lợn, sở dĩ đậu lên nóc nhà là vì nó linh cảm được nơi đó khí âm phát ra, thế chẳng phải là báo trước cho chủ nhà là có chuyện là gị. Còn khi nó kêu, là vì nó thấy vong hồn vảng vất, vậy chẳng phải là khắc ma sao?
An lúc này mới bắt đầu lo sợ, hắn nhớ rằng cái cửa sổ tầng hai của hắn nhìn thẳng vào sân nhà lão Sửu. Không lẽ con mực tối qua sủa như điên như dại là vì nhìn thấy bóng ma lấp ló ở đó? Đang chìm trong suy nghĩ chợt hắn giật mình khi nghe câu hỏi của ông Tư:
- Nãy giờ nói chuyện tui mới để ý, có phải chú đã thấy những thứ mà chú chưa từng thấy đúng không nào?
An ấp úng như cố tỏ ra vẻ cương quyết:
- Sao thầy lại nói vậy?
Ông tư mỉm cười, châm thêm điếu thuốc khác, vừa phì phèo hơi thuốc, ông nói:
- Tui thấy chú có qua một đêm mất ngủ mà tiều tụy đến nhường này, e có lẽ chú đang bị oan hồn nó bám theo chăng?
An chợt lớn tiếng:
- Nhưng tôi đã từng hại ai hay làm điều gì sai trái đâu mà oan hồn nó bám tôi?
Ông Tư bây giờ mới cười phá lên:
- Thật vậy sao? Chú có dám đặt cả cái mạng của chú ra mà thề là chú chưa làm điều gì sai trái không?
Nghe đến câu đó, An đứng phắt dậy, mắt nhìn chằm chằm vào mặt ông Tư. Ông Tư chỉ nhìn An cười khểnh rồi rít một hơi thuốc. Hắn để tiền trả tách cà phê rồi rảo bước ra khỏi quán.
Cả ngày hôm đó, hắn không tài nào làm việc nổi, một phần vì quá mệt mỏi, một phần vì bị ám ảnh bởi lời nói của ông Tư. Thấy hắn như vậy, nên ông chủ sòng cũng thương tình mà cho hắn về sớm. Mới có 8 giờ hơn tối mà hắn đã về đến nhà. Trên đường về, hắn vừa đi vừa cố lắng tai nghe coi có ai đi theo hắn không. Thỉnh thoảng còn quay đầu lại, nhìn xem thì không thấy gì. Vừa về đến nhà, hắn đổ ngay người xuống giường mà không cần thay quần áo. Cũng vì lí do quá mệt mỏi mà hắn dần dần chìm vào giấc ngủ lúc nào mà không hay biết. Lúc tình dậy, hắn thấy mình đang đứng trước căn nhà nhỏ ngoài Hà Nội. Vẫn cái bể nước đó, hắn nhìn mà rờn rợn. Rồi hắn đảo mắt một vòng quanh ngôi nhà. Tim hắn như ngừng đập khi nhận ra Minh, người vợ đã bỏ hắn bị treo cổ trên xà nhà ngoài hành lang, đang đung đưa. Hắn sợ kinh hồn khi mà cái xác đó chợt phát ra tiếng nói:
- Anh à… anh đã về rồi đấy ư? Lại đây với em nào …
Còn đang ngỡ ngàng thì cái nắp của bể nước bật mở. Một cô bé tóc tai rũ rượi ướt sũng từ từ chui ra. Cô bé tiến về phía hắn, từ từ ngẩng mặt lên, để lộ hai con mắt trắng bệch, lớp da mặt trương lên vì ngâm lâu trong nước. Đó là Hoa, cô bé bắt đầu gọi:
- Bố ơi… về với con đi bố… về với con…
An lần này thì đúng là hồn xiêu phách lạc, hắn cắm mặt chạy ra khỏi cửa, mồm la lớn:
- Không! Các người để cho tôi yên!
Hắn chồm dậy trên chiếc giường tầng hai, thì ra là một cơn ác mộng. Cả người đầm đìa mồ hôi, hắn coi đồng hồ mới có 6 sáu giờ sáng. Hắn ra khỏi giường, đánh răng rửa mặt rồi chạy ù ra tiệm bán đồ thờ cúng của bà Kim đầu ngõ. Vừa thấy An, bà Kim đã tất tưởi chạy ra:
- A, chú An. Mới sáng qua cửa hàng chị có chuyện chi dzậy?
An nhìn trước nhìn sau, rồi thì thầm với bà Kim:
- Chị bán cho em mấy lá bùa trấn nhà, cả cái bát quái nữa nhé.
Bà Kim thấy lạ hỏi:
- Chú mua hộ bạn hử? Hay là bị vong nó ghẹo, giờ biết sợ nên mới mua?
An giọng bực mình:
- Chị hỏi nhiều thế, chị có bán không hay để em đi ra tiệm khác đây?
Bà Kim hớt hải:
- Có, có chớ.
Rồi bà chạy vô trong lấy đầy đủ các thứ cho An, Thanh toán tiền xong, An cầm đồ chạy như điên. Về đến nhà, hắn treo cái bát quái lên trước cửa ra vào. Còn bùa, hắn chi chít từ tầng một đến tầng hai, nhiều nhất là xung quanh giường. Sau khi làm xong, hắn có vẻ an tâm lắm vì nghĩ rằng giờ thì mọi chuyện đã êm đẹp lắm rồi.
Nhưng hắn đã nhầm, đêm nào hắn ngủ cũng vẫn mơ một giấc mơ là về căn nhà cũ và gặp Minh và Hoa. Đã thế, khi tỉnh dậy, tất cả những lá bùa mà hắn đã dán đều tự động rách tan nát như có ai xé vậy. Còn chiếc bát quái thì vỡ vụn dưới đất. Lúc đầu hắn nghi là có người phá đám, nhưng quanh cái phố này, còn ai lạ gì An nữa mà dám dây vào. Cứ như vậy, An thử mua bùa và bát quái ở các tiệm khác, nhưng kết quả vẫn vậy. Mà dần dần, khi mơ, An còn la hét cả đêm, khiến bà con xung quanh bắt đầu rỉ tai nhau về việc An bị ma ám. Đến ngày hôm nay, thì nhìn An không khác gì một cái xác khô. Hắn đang thất thểu đi tới nhà thầy Tư, thật ra hắn muốn đến từ mấy bữa trước, nhưng sợ rằng thầy Tư biết chuyện hắn giết con mà báo với công an thì hắn rũ tù. Nhưng đã hơn hai tuần rồi, làm sao hắn chịu được nổi. Ngay đến ông chủ sòng còn đuổi việc hắn vì thấy hắn quá xuống sức, với cả sợ vạ lây cho sòng bạc của mình. Vừa đến cửa, An thều thào nói:
- Thằng… thằng Hai, mày kêu thầy Tư ra cho chú An gặp có việc.
Không kịp đợi thằng nhỏ chạy vào, ông Tư đã từ nhà trong bước ra, nhìn An cười nhếc mép và nói:
- Chú An, cuối cùng chú cũng đến tìm tui rùi sao…
An bất ngờ, định trả lời thì ông Tư ra hiệu cho An đi theo ổng vào bên nhà trong. Ông Tư dắt hắn đi xuyên qua căn nhà ra đến vườn sau cây cối rậm rạp. Rồi ông dẫn hắn vào một cái am nhỏ sau vườn. Trước am có trồng hai cây liễu, xung quanh thì toàn là cây trứng cá. Ông Tư dắt An lên am ngồi, ngay trước am để một pho tượng đức Phật bằng đồng đen bóng, hai bên là bốn vị tứ đại kim cương, dáng vóc uy nghiêm với khuôn mặt dữ dằn. An vừa ngồi xuống, thì ông Tư lấy từ trên bàn thờ xuống một cái ấm trà, bên ngoài có dán hai cái lá bùa đen nhìn rất lạ. ông Tư rót cho hắn một chén, nhìn thứ nước xanh xanh thì An đoán đó là nước trà. Ông Tư bảo hắn hãy uống ly trà này thật từ từ, để nó chảy từ trên xuống một cách chậm rãi. An làm theo lời ông Tư, quả nhiên hắn có thể cảm nhận được một luồng sức sống mới tuôn trào trong cơ thể. Khi thấy mặt An đã có tí thần sắc trở lại, ông Tư mới bắt đầu nói:
- Ta coi bộ chú em chịu không nổi nữa, nên mới đến tìm ta chứ gì?
An bắt đầu lộ rõ sự sợ hãi trên khuôn mặt, hắn nhìn ông Tư với vẻ thăm dò, hắn hỏi:
- Ý thầy là sao?
Ông Tư châm một điếu thuốc, rít một hơi, thổi khói thẳng vào mặt An rồi nói:
- Ác giả ác báo, thiện lai thiện báo đấy chú em ạ.
Lúc này An mới té ngửa ra đằng sau, chỉ một câu nói của ông Tư đã đánh chúng tim đen của hắn. Hắn ngồi dậy, giọng thì thào:
- Chả lẽ… thầy… đã biết hết…
Ông Tư rít một hơi thuốc dài, vừa nhả khói vừa đáp:
- Nếu nói về biết, ta biết nhiều hơn cả chú em nghĩ đấy…
An vội vàng hỏi:
- Bẩm thầy, nhưng sao thầy biết?
Ông Tư giọng trầm xuống và bắt đầu kể lại:
- Hồi chú em mới dọn vô cái xóm này, ta đã có để ý rồi. Trên đầu chú em vốn có một cái bóng đen mờ mờ trên đầu mà thường thường những người học đạo như ta mới có thể thấy, cái bóng đen đó chỉ xuất hiện trên đầu những kẻ đã từng giết người mà thôi. Hơn thế nữa, con mực nhà lão Sửu vốn ngoan lắm, nhưng từ khi chú về, cứ đến đúng đêm nào trăng sáng, nó lại tru rống lên.
An cắt ngang lời:
- Tôi tưởng đó là do nó động đực?
Ông Tư cười phá lên, rồi ông nói:
- Như tui đã nói, con mực đã được tôi huấn luyện và mỗi cái lần trăng lên mà nó tru lên tức thì là thời gian mà âm khí lên cao và oan hồn vảng vất. Với cả khi tôi bắt đầu để ý chuyện này, tui có mấy lần đi qua nhà chú em lúc buổi đêm.
An đang định cắt lời, thì ông Tư cười và bảo:
- Chú đừng hiểu nhầm ý tui, tui không có rình mò gì đâu mà chỉ xem cái sự lạ thôi.
An mặt tái đi:
- Sự lạ… Sự lạ gì cơ hả thầy?
Ông Tư lúc này mặt nghiêm lại, dập điếu thuốc và nói:
- Chú có biết trước cửa nhà chú, đêm nào cũng có ba bốn cái vong vất vưởng không?
An lúc này mặt tái mét, mồ hôi bắt đầu chảy ra, hắn cố hỏi lại:
- Nhưng tôi nghĩ chỗ này cơ địa hồi xưa chết bao nhiêu mạng, việc oan hồn vảng vất là chuyện bình thường mà.
Ông Tư nhìn An lắc đầu:
- Chú em ơi, nói là cơ địa, nhưng chỉ đên lúc nào mà khí âm nó lên cao, thì vong hồn mới vảng vất chứ. Còn như đây, đêm nào tôi qua cũng thấy, thì tôi đoán là chúng nó bám theo chú lâu rồi.
An bắt đầu thấy rờn rợn, hắn gặng hỏi:
- Nhưng sao chúng nó lại bám theo tôi?
Ông Tư nhìn thẳng vào mắt An:
- Chú quên vụ con chú, bé Hoa bị chú xô xuống bể nước rồi sao?
Lúc này An rùng mình, mồm há hốc ra. Ông Tư chậm rãi châm điếu thuốc và nói:
- Chú em muốn hỏi tại sao ta biết được những việc đó chứ gì, ta đã gọi con ma xó ở nhà chú lên và hỏi nó mọi điều về chú rồi. Chú cũng độc ác quá chứ, dám giết cả con gái ruột, mà ta cũng chả cần báo chính quyền làm gì, vì số chú chả sống được lâu nữa đâu.
An như người mất hồn, cả người hắn gục xuống như một cái xác không xương, hắn thì thào:
- Ý thầy là sao?
Ông tư thở hắt ra một hơi dài, giọng buồn rầu:
- Chú em ơi, ác giả thì ác báo, đó là điều tất nhiên của cuộc sống, mà báo cho chú em một tin buồn, vợ chú cũng mới chết cách đây có mấy tháng thôi.
An sợ xanh mặt, hắn lẩm bẩm:
- Trời ơi , Minh... Không thể nào…
Ông Tư rít một hơi thuốc:
- Chính vong con gái của chú đã kéo vợ chú về với nó đó, và bây giờ là đến lượt chú đây.
An lúc này thì bật khóc, như một đứa con nít. Hắn bò lại về phía ông Tư, van nài:
- Thầy ơi, thầy đã biết cơ sự như vậy… mong thầy giúp con ….
Ông Tư nhìn An, lắc đầu và nói:
- Đã biết có ngày hôm nay, sao hôm xưa còn làm. Về việc này, ta không thể nào giúp được chú em nữa rồi, phải chăng chú em tìm đến ta ngay từ lúc chú mới dọn đến thì may ra. Giờ cái nghiệp chướng nó quá nặng rồi chú em ạ. Nếu ta giúp chú thì e là cả ta cũng khó sống lắm.
An bò lại trước tượng, vái lấy vái để và lẩm bẩm cầu xin thần Phật thương xót mà cứu vớt. Ông Tư chỉ đứng lên, đỡ An dậy và bảo:
- Ta đã tính ngày giờ cả rồi, mạng chú không sống được quá tuần này đâu.
An gào lên:
- Không! Không thể có chuyện đó được!
Ông Tư cố trấn tĩnh An:
- Chú em nếu còn việc gì chưa hoàn thành thì hãy nói với ta, ta sẽ cố gắng hết sức. Còn về việc ma chay cúng tang cho chú em, ta sẽ lo liệu chu đáo, coi như là giúp chú em an nghỉ.
An vùng lên, chạy ra khỏi cái am, phi ngay ra cửa. Thằng nhóc ngoài tiệm thấy vậy chạy vô hỏi:
- Thầy ơi, có chuyện chi mà chú An chạy thục mạng dzậy?
Ông Tư đáp:
- Không có chuyện chi, con đi đặt gấp cho thầy một cái hòm nhé, tới nhà mụ Tám ấy, bảo tuần sau thầy sẽ lấy.
Thằng nhỏ hỏi:
- Bẩm thầy, mua hòm cho ai ạ?
Ông Tư quát:
- Còn không mau đi, đứng đó hỏi nhiều làm gì?!
Từ cái ngày ở nhà ông Tư về, An tối ngày cố thủ ở trong nhà. Hắn không dám mò ra đường. Cộng thêm những cơn ác mộng hàng đêm khiến hắn không tài nào ngủ được. Cứ như vậy mấy ngày liên tục, cơ thể hắn đã đuối lắm rồi. Cái đêm chủ nhật đó, mưa to kinh khủng. Bà con ai cũng đóng cửa ở trong nhà người ấy. Nói về An, hắn ngồi nép vào góc tường trên giường, hai tay cầm mấy nắm bùa cộng thêm vài ba cái bát quái. Nếu đúng như lời ông Tư nói thì hôm này là ngày tận số của hắn. Khi kim đồng hồ chỉ đã mười 1 giờ 45, bỗng đâu đó trong mưa, An nghe tiếng gọi ghê rợn: “Bố ơi, về với con bố ơi…”. An hồn vía lên mây, cố bịt tai lại, và gào thét:
- Không! Chúng mày cút hết đi! Để cho tao được yên!
Một lúc sau, lại có tiếng gọi khác xen lẫn vào tiếng gọi đó: “Mình ơi… Về với em mình ơi...”. Cả hai tiếng nói cùng vọng về, khiến cho đầu óc An như điên đảo, hắn đập đầu vào tường rồi cầm tất cả những thứ hắn vớ được đập mạnh lên đầu nhằm xua đuổi cái tiếng nói vọng về. Cuối cùng, trước mặt An, ngay tại đầu giường, hai mẹ con Minh và Hoa đã đứng đó từ lúc nào, chìa đôi bàn tay về phía hắn như ý mời gọi.
Sáng hôm sau, trời quang mây tạnh, ông Tư đã cho người lên đồn công an báo rằng có người tự tử tại nhà. Đồng thời cũng bảo mọi người trong nhà mình phát tang cho An. Khi công an đến hiện trường, thì thấy An đã treo cổ lên xà nhà. Bên pháp y đã xác nhận An treo cổ từ đêm hôm trước, nhưng câu hỏi đặt ra là làm sao An có thể tự treo cổ mình lên cao như vậy mà không cần đến một vật gì để đứng lên. Cái xác tuy đã được treo lên mấy tiếng trước, nhưng đến tận sáng nay vẫn đung đa đung đưa tựa như có hai người đứng hai bên đẩy qua đẩy lại vậy. Đầu tiên người ta nghi cho ông Tư là thủ phạm vì chỉ có mình ông là biết việc này, nhưng không có bằng chứng kết luận để buộc tội ông Tư. Sau khi kiểm tra toàn bộ căn nhà, công an còn phát hiện ra một lá thư mà An viết để trong ngăn kéo, qua xác định thì đó đúng là nét chữ của An:
“Thầy Tư không có tội đâu, đã đến lúc tôi về đoàn tụ với gia đình rồi.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét